University of Transport and Communications - Campus II, VIET NAM

Một số khái niệm cơ bản cần nắm vững khi lập dự toán

Trước khi  đi vào bóc tách khối lượng dự toán chúng ta cần phải nắm chắc một số khái niệm cơ bản sau đây.

1. Bảng tiên lượng Là bảng liệt kê các công tác phải cần thiết để hoàn thành một công trình xây dựng. Dựa vào bản vẽ thiết kế, người dùng sẽ chọn đơn giá phù hợp (xây dựng, lắp đặt, sửa chữa, điện, viễn thông..) để tra cứu công tác cần thực hiện (công tác đất, công tác xây, công tác bê tông..). Trong mỗi bảng tiên lượng thì các hạng mục. Trong hạng mục thì có các công tác.

2. Hạng mục:

Trong một dự án xây dựng, tùy thuộc vào tính chất và quy mô dự án, phương pháp chia gói thầu của chủ đầu tư và công trình có thể có 1 hạng mục hoặc nhiều hạng mục. Quan sát bản vẽ mặt bằng dưới đây

hangmuc Một số khái niệm cơ bản cần nắm vững khi lập dự toán

Dự án trên có thể phân thành các hạng mục như: Nhà làm việc A, Hội trường, Gara, Nhà bảo vệ + tường rào rồi có thể mời một hay nhiều nhà thầu để tham gia các hạng mục trên hoặc nếu đây là một gói thầu có thể chia thành hạng mục móng, xây thô, hoàn thiện, điện nước..

Tùy vào quan điểm của chủ đầu tư, tính chất công việc mà có thể chia dự án thành các hạng mục nhỏ. Khi lập dự toán, mỗi hạng mục phải có các báo cáo riêng như bản Tổng hợp kinh phí hạng mục, bảng THVT, bảng chiết tính dự thầu..)

3. Công tác. Là đơn vị cấu thành nên bảng tiên lượng. Có 2 loại công tác

  • Công tác có sẵn trong đơn giá: là công tác đã được định nghĩa sẵn với đầy đủ thành phần là mã hiệu, tên, đơn vị tính, đơn giá vật liệu, nhân công, máy và kèm với nó là định mức hao phí đã được định Nhà nước ban hành. ví dụ trong đơn giá 56/2008 của Hà nội có mã hiệu công tác bê tông Mã hiệu             : AF.11111 Tên công tác    : Bê tông móng đá 4×6, đổ thủ công, chiều rộng móng <250 cm, BT mác 200 Đơn vị tính        : m3
  • Công tác tạm tính: là công tác mới do phát sinh vật tư mới, công nghệ thi công mới mà các bộ đơn giá, định mức chưa kịp bổ sung. Công tác tạm tính do người dùng tự đặt mã, tên và thành phần hao phí Mã hiệu             : TT Tên công tác    : Sản xuất cửa nhôm kính Đài Loan kt 2400×1200, nhôm loại 1 Đơn vị tính        : m2

4. Đơn giá

Đơn giá hay đơn giá xây dựng cơ bản là tài liệu tra cứu do địa phương ban hành dựa vào định mức do nhà nước ban hành. Đơn giá được phân thành chương mục, trong mỗi mục lại có các công tác. Mỗi công tác lại có mã hiệu, tên, đơn vị đơn giá vật liệu, nhân công, máy. Khi lập dự toán, người lập phải tra cứu đơn giá để chọn các công tác phù hợp với yêu cầu công việc để đưa vào bảng tiên lượng.

Dựa vào đặc điểm công tác trong mỗi cuốn đơn giá mà người ta phân thành Đơn giá xây dựng, đơn giá lắp đặt, đơn giá khảo sát, đơn giá sửa chữa…

Ví dụ: Hà nội có đơn giá 56/2008 ban hành theo quyết định số 56 ngày 22/12/2008 của UBND TP Hà nội. Quyết định có 3 phần là xây dựng, lắp đặt, khảo sát….

5. Định mức

Định mức là tài liệu do nhà nước ban hành: Định mức quy định thành phần hao phí cho mỗi công tác.

Ví dụ: Mã hiệu AF.11112 – Bê tông móng đá 4×6, đổ thủ công, chiều rộng móng <250 cm, BT mác 200 có thành phần hao phí:

  • Vữa                                                     – 1.05           m3
  • Nhân công 3,5/7                          – 1,42          công
  • Máy đầm bàn 1w                           – 0,089         ca
  • Máy trộn bê tông 250 lít           – 0,095         ca

Riêng đối với công tác xây, công tác bê tông, công tác trát thì vật liệu trong định mức là m3 bê tông hoặc m3 vữa, muốn phân tích chi tiết vật tư thì cần thông qua phụ lục vữa để.

6.Phụ lục vữa

Là định vật tư cần để sản xuất ra 1m3 vữa. Vữa phân biệt theo độ sụt, theo cốt liệu (đá 2×4, đá 2×6, xi măng, phụ gia vv.). Mác vữa chủ yếu do cốt liệu, tỷ lệ trộn quy định.

7. Giá vật liệu, nhân công, máy

Giá vật tư: là để mua được một đơn vị hao phí (vật liệu, nhân công, máy) trên thị trường ở vùng nào đó vào thời điểm nào đó. khi xác định giá người ta phải xác định là giá mua ở đâu và vào thời gian nào?

Giá: khi nói đến giá (khác với đơn giá), người ta thường phân biệt là gốc, giá TB, giá hiện trường.

  • Giá gốc: là giá được dùng để tính ra đơn giá xây dựng của một tỉnh nào đó. Khi làm dự toán người ta thường gọi trùng tên với đơn giá vd Đơn giá 56 ban hành quý 4 năm 2008. Giá trong đơn giá là giá vật tư ứng với thời điểm ban hành đó. Vì vậy khi gọi giá gốc thì hiểu là giá dùng để tính ra quyển đơn gía của địa phương nào đó. Mỗi quyển đơn giá của mỗi địa phương đều có giá gốc khách nhau
  • Giá thông báo: Giá vật tư luôn biến động theo thời gian, vì vậy để bù sự thay đổi này khi lập dự toán trên bộ đơn giá đã ban hành, hàng tháng hoặc quý ở mỗi địa phương có ban hành một thông báo giá tính từ thời điểm ban hành đến thời điểm banh hành thông báo tiếp theo. Nguời lập dự toán thường gọi là giá tháng (hay giá quý).
  • Giá hiện trường: Giá thông báo thường chỉ là giá ở Trung tâm Thị trấn, thị xã, tỉnh trong khi đó công trình xây dựng lại ở rải rác ở nhiều nơi khác nhau, vì vậy giá vật tư ở đó sẽ bằng giá ở nơi mua cộng thêm chi phí vận chuyển. Vì vậy giá vật tư xác định ở chân công trình (còn gọi là giá hiện trường) = Giá thông báo  + cước vận chuyển.

Khi lập dự toán, người lập dự toán phải xác định được giá hiện trường (giá TB + chi phí vận chuyển) để lắp vào chương trình tính chênh lệch vật tư.

8. Cước vận chuyển Là chi phí cần thiết để vận chuyển vật liệu từ nơi mua đến địa điểm xây dựng. Tùy thuộc vào cung đường vận chuyển mà hình thức vận chuyển sẽ là thủ công hay cơ giới (ôtô, tầu thủy, tàu hỏa..)

Khi tính cước vận chuyển, người lập dự toán phải căn cứ vào các bảng cước vận tải do Nhà nước hoặc địa phương ban hành áp dụng trên địa bàn tỉnh lập dự toán

9. Bù giá nhiên liệu

Khi ban hành bảng giá ca máy (dùng để tính ra đơn giá ca máy) người ta dựa vào giá nhiên liệu (vật tư) trên thị trường ở thời điểm đó để tính. Theo thời gian giá này bị thay đổi (lên hoặc xuống). Để xác định lại giá ca máy thi công, người ta đưa ra phương pháp tính bù giá nhiên liệu (bù giá ca máy để tính ra giá ca máy hiện trường.

Như vậy bù giá nhiên liệu là lượng chi phí tăng thêm khi có sự biến động về giá nhiên liệu trên thị trường. Cũng giốn như vật liệu, giá ca máy cũng có khái niêm giá ca máy hiện trường (hoặc thông báo). Giá ca máy hiện trường = Giá ca máy gốc + bù giá nhiên liệu

Bù giá nhiên liệu = (giá nhiên liệu TB – giá nhiên liệu gốc) X Hao phí nhiên liệu.

Hiện nay việc tính bù giá ca máy dựa vào định mức ca máy theo TT06/2005 do Bộ xây dựng ban hành. Các trường hợp khác do bộ, nghành, hay tổng công ty quy định.

TÌM KIẾM THÔNG TIN

Loading

THÔNG TIN LIÊN HỆ

  • ĐT: (08) 37360512; Gặp C. Vân hoặc C. Phương
  • Fax: (08) 37360676;
  • Email: daotaothuchanh@utc2.edu.vn